Những loại thuốc điều trị bệnh tai biến mạch máu não

Bệnh tai biến mạch máu não xảy ra phổ biến hiện nay, từ người trẻ cho đến người cao tuổi. Và có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh tai biến mạch máu não như cao huyết áp, do sử dụng chất kích thích nhiều,…Khi có những triệu chứng của bệnh cần đưa người bệnh đến các cơ sở y tế chuyên khoa để chữa trị kịp thời nhằm giảm thiểu những di chứng, biến chứng rủi ro cho người bệnh. Dưới đây chính là những loại thuốc điều trị bệnh tai biến mạch máu não mà bệnh nhân có thể tham khảo.

thuốc điều trị bệnh tai biến mạch máu não
Thuốc điều trị bệnh tai biến mạch máu não là gì?

Một số thuốc điều trị bệnh tai biến mạch máu não

Thuốc điều trị bệnh tai biến mạch máu não gồm có một số loại thuốc thường dùng và một số thuốc chống đông máu.

Một số thuốc thường dùng

Aspirin: giảm đau, hạ sốt, chống viêm, chống kết tập tiểu cầu, khi dùng liều thấp kéo dài có thể phòng ngừa đau tim và hình thành cục nghẽn trong mạch máu.

Thuốc điều trị bệnh tai biến mạch máu não
Aspirin dùng để giảm đau, hạ sốt

Calcium: ngăn không cho dòng canxi vào nội bào, làm cản trở quá trình co cơ. Cần mạnh dạn dùng nhóm chẹn canxi trong điều trị bệnh cao huyết áp, tim mạch song nên thận trọng, tránh sự nhầm lẫn.

Coumadin: thuốc chống đông máu loại kháng vitamin K.

Folic Acid: cần thiết cho dinh dưỡng hằng ngày của cơ thể người để phục vụ các quá trình tạo mới tế bào.

Heparin: thuốc chống đông máu được dùng để dự phòng các bệnh tim mạch, ngăn ngừa hình thành cục máu đông, giảm nguy cơ tắc mạch, giảm nguy cơ tai biến mạch máu não.

Magnesium: tốt cho hoạt động não bộ, tăng trí nhớ, duy trì độ bền dẻo của các khớp thần kinh.

Plavix: dự phòng biến cố huyết khối do xơ vữa ở bệnh nhân đã bị nhồi máu cơ tim (trong thời gian vài ngày đến dưới 35 ngày), đột quỵ thiếu máu cục bộ (từ 7 ngày đến dưới 6 tháng) hay bệnh động mạch ngoại biên đã thành lập.

Potassium: tăng nồng độ ion kali trong máu.

Một số thuốc chống đông máu

Cục máu đông là kết quả của một loạt các hiện tượng xảy ra trong quá trình cầm máu với 3 giai đoạn chính là: co mạch, kết tập tiểu cầu, đông máu. Cục máu đông được hình thành trong cơ thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra các cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, thuyên tắc khối tĩnh mạch… Và đều để lại hậu quả nặng nề cho bệnh nhân, thậm chí có thể gây tử vong. Do vậy, việc sử dụng thuốc chống đông máu trong dự phòng và điều trị các bệnh do nguyên nhân huyết khối đóng vai trò rất quan trọng.

Có 3 nhóm thuốc chống đông máu chính được sử dụng trên lâm sàng với bản chất và cơ chế tác dụng khác nhau.

Heparin

Trong thực tế điều trị hiện nay có 2 loại Heparin: Heparin thường (trọng lượng phân tử trung bình 12.000 – 15.000) và Heparin trọng lượng phân tử thấp (trọng lượng trung bình 5.000).

Đường dùng: Heparin không hấp thu qua đường uống và bị phân hủy ở đường tiêu hóa. Do vậy các heparin phải tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch, không tiêm bắp.

Thuốc kháng vitamin K

Nguồn gốc: là chất chống đông máu tổng hợp, dẫn xuất của Coumarin (Coumadin, Sintrom) và Indandion (Pindione, Prerviscan).

Đường dùng: là thuốc chống đông máu đường uống, thuốc hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa nhưng tác động chậm, chỉ có tác động sau khi uống 48 – 120 giờ.

Thuốc chống kết tập tiểu cầu

Thuốc ngăn ngừa sự hình thành nút chặn tiểu cầu nên có tác dụng chống đông máu từ giai đoạn cầm máu sơ cấp.

Có 5 nhóm thuốc chống kết tập tiểu cầu chính được sử dụng trên lâm sàng hiện nay:

Aspirin là thuốc kinh điển có tác dụng giảm đau, hạ sốt, chống viêm nhưng nhiều năm gần đây, nó được dùng như một thuốc chống kết tập tiểu cầu với liều thấp 100 mg/ngày.

Clopidogrel (Plavix) là dẫn xuất Thienopyridin đã được chứng minh trên số lượng lớn bệnh nhân có hiệu quả và độ an toàn cao trong phòng ngừa các biến cố huyết khối ở động mạch.

Thuốc điều trị bệnh tai biến mạch máu não
Clopidogrel Plavix – Thuốc chống kết tập tiểu cầu

Ticlopidin (Ticlid) có cấu trúc hóa học tương tự như clopidogrel, do đó có cơ chế tác dụng giống clopidogrel. Về hiệu quả điều trị, 2 thuốc này là tương tự nhau, nhưng ticlopidin kém an toàn hơn vì tỷ lệ bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn là giảm bạch cầu hạt cao 3,2% (trong khi clopidogrel chỉ là 0,15%, aspirin là 0,21%).

Dipyridamol (Agrenox, Persantin) có cơ chế tác dụng chưa rõ ràng hay được sử dụng phối hợp với Aspirin.

Trifusal (Disgren), một chất thuộc nhóm salicylat có cấu trúc gần giống aspirin. Thuốc có tác dụng chọn lọc trên cyclooxygenase của tiểu cầu, do đó ức chế sự tạo thành thromboxan A2, là chất gây kết tập tiểu cầu mạnh nhất. Có nghiên cứu chỉ ra rằng thuốc có hiệu quả tương đương Aspirin trong phòng ngừa các biến cố do huyết khối động mạch và tỷ lệ bệnh nhân gặp tác dụng phụ chảy máu nặng thấp hơn.

Trên đây là những loại thuốc điều trị bệnh tai biến mạch máu não. Tuy nhiên, tùy theo tình trạng của bệnh nhân mà bác sỹ cho dùng loại thuốc nào và liều lượng phù hợp. Để phục hồi sức khỏe cũng như đảm bảo an toàn thì bệnh nhân nên nghe theo sự chỉ dẫn của bác sỹ.

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *